Ảnh hưởng của muối khoáng lên đời sống sinh vật


   Muối tham gia vào thành phần cấu trúc của chất sống và các thành phần khác của của cơ thể. Đến nay người ta đã biết khoảng 40 nguyên tố hoá học có trong thành phần chất sống. Trong số các nguyên tố trên, 15 nguyên tố đóng vai trò thiết yếu đối với sinh vật. Hai nguyên tố natri và clo rất quan trọng đối với động vật và 8 nguyên tố khác (Bo, crom, coban, fluo, iot, selen, silic,vanadi) cần thiết cho một số nhóm. Những nguyên tố chủ yếu tham gia vào thành phần cấu tạo của protein, gluxit, lipit gồm oxy (oxygen),   hydro  (Hydogen),   cacbon,   nitơ  (Nitrogen),   silic,   phốt   pho (Phosphor)…thành phần trung bình của các hợp chất trên rất phức tạp, có thể biểu diễn bằng một công thức tổng quát: H2060 O1480 C1480 N16 P18 S.

   Các muối dinh dưỡng được sinh vật lấy từ đất hay từ môi trường nước xung quanh mình (đối với sinh vật sống trong nước) để cấu tạo nên cơ  thể và tham gia vào các quá trình trao đổi chất  của sinh vật, qua đó, cũng như khi sinh vật chết đi, chúng lại được trả lại cho môi trường.

   Trong môi trường nước, muối không chỉ là nguồn thức ăn mà còn có vai trò điều hoà áp suất thẩm thấu và ion của cơ thể, duy trì sự ổn định của  đời  sống  trong  môi  trường  mà  hàm  lượng  muối  và  ion  (nhất  là  các cation) thường xuyên biến động.

   Nước  và  muối  đều  là  nguồn  vật  chất  cung  cấp  cho  đời  sống  của sinh vật, song nước còn là dung môi hoà tan các loại muối, giúp cho thực vật có khả năng tiếp nhận nguồn muối. Ở môi trường trên cạn, có những nơi  giàu  muối  nhưng  khô  hạn,  thực  vật  cũng  không  thể  khai  thác  được nguồn muối để tồn tại và phát triển. Mối quan hệ giữa các loại muối trong môi trường cũng tương tự như muối và nước, Chẳng hạn một cây bị đói muối nitơ thì bộ rễ không sinh trưởng được, và như vậy cây cũng rơi vào tình  trạng  không  hấp  thụ  được  muối  photpho,  mặc  dù  trong  vùng  muối photpho không hiếm..

   Trong  “dung  dịch  đất”  thành  phần  và  tỷ  lệ  các  muối,  tỷ  lệ  các anion và cation bị biến động do sự biến động của pH hay sự có mặt nhiều hoặc  ít  các  ion  H+  và  OH-.  Trong  đất  có  pH  thấp  (acid)  thì  nhôm,  sắt, mangan, đồng, kẽm… ở trạng thái hoà tan nhiều trong dung dịch, đôi khi gây  độc  cho  thực  vật.  Đất  có  pH  =  6,5  –  7,0  thì  sắt,  nhôm kết  tủa  hoàn toàn. Phản ứng của dung dịch đất còn ảnh hưởng tới hoạt động của hệ sinh vật đất, qua đó ảnh hưởng đến nguồn muối dinh dưỡng trong đất và cuối cùng đối với đời sống thực vật.

   Trong quang hợp của thực vật và trao đổi chất của động vật nhờ các enzym, các enzym này được sử dụng cho sự tăng trưởng và phát triển với  những  hàm  lượng  khác  nhau.  Những  nguyên  tố  cần  với  số  lượng tương đối lớn gọi là những nguyên tố đại lượng, trung bình mỗi loại đạt 0,2% hoặc nhiều hơn theo khối lượng khô của chất hữu cơ. Những nguyên tố  vi  lượng  là  những  nguyên  tố  cần  với  số  lượng  rất  ít  hay  dạng  vết, thường nhỏ hơn 0,2% theo khối lượng khô của chất hữu cơ.

   Những nguyên tố đại lượng gồm hai nhóm: Nhóm 1 là các nguyên tố chứa 1% theo khối lượng khô của chất hữu cơ như C, H, O, N, và P; nhóm 2 chỉ chiếm từ 0,2 -1,0% như S, Cl, K, Na, Ca.Mg, Fe và Cu. Chúng đóng vai trò rất quan trọng như thành phần cấu trúc chất nguyên sinh, duy trì sự ổn định acid – baz trong dịch tế bào, xoang cơ thể…

   Những nguyên tố vi lượng đã biết As, Bo, Cr, Co, Fl, I, Mn, Mo, Ni, Se, Si, Zn,…Thực tế một số nguyên tố là đại lượng đối với một số loài này,  ngược  lại  một  số  nguyên  tố  đại  lượng  thuộc  nhóm  thứ  2  lại  là  vi lượng đối với loài khác, chẳng hạn như Na và Cl là vi lượng đối với một số cây trồng.

   Muối là nguồn dinh dưỡng, nơi nào giàu muối nơi đó sinh vật phát triển phong phú, nơi nào thiếu muối sự sống trở nên nghèo nàn. Tuy nhiên muối vừa là yếu tố điều chỉnh vừa là yếu tố giới hạn cả trong trường hợp thiếu  muối  hoặc  thừa  muối,  nhiều  loại  muối  trong  những  điều  kiện  xác định còn gây độc đối với đời sống.

   Trong môi trường nước, tỷ lệ các loại muối cũng khá ổn định, duy trì sự sống bình thường của các sinh vật thuỷ sinh theo 2 khía cạnh: Chất dinh dưỡng và điều hoà áp suất thẩm thấuvà tỷ lệ các ion trong cơ thể. Ở nước ngọt, muối chính là cacbonat, còn ở biển là natri clorua. Natri clorua được xem là yếu tố giới hạn của sự phân bố đối với 2 nhóm sinh vật nước ngọt và nước mặn.

   Liên quan với nồng độ muối hay áp suất thẩm thấu gây ra bởi sự chênh lệch nồng độ muối giữa cơ thể với nồng độ muối của nước, sinh vật biển được chia thành 3 nhóm:

– Sinh vật biến thẩm thấu (poikiloiosmotic)

– Sinh vật đồng thẩm thấu (homoiosmotic)

– Sinh vật giả đồng thẩm thấu (pseudohomoiosmotic)

   Nhóm đầu  gồm những  sinh vật  mà  áp suất thẩm thấu của cơ  thể biến thiên theo sự biến thiên của áp suất thẩm thấu môi trường. Nhóm thứ 2 gồm những sinh vật  có áp suất thẩm thấu của cơ thể ổn định độc lập với sự biến động của áp suất môi trường và chúng có cơ chế điều hoà riêng. Nhóm cuối cùng là những sinh vật biến thẩm thấu, nhưng sống trong điều kiện độ muối của môi trường ổn định.

   Những sinh vật sống ở nước ngọt và nước mặn đều là những loài hẹp muối so với sinh vật ở nước lợ, rộng muối.

   Giữa  nước  ngọt  và  nước  mặn,  còn  gặp  những  loài  di  cư  hoặc  từ sông ra biển (Katadromy) hoặc từ biển vào sông (Anadromy). Chúng có cơ  chế  riêng  điều  chỉnh  áp  suất  cả  2  chiều,  khi  tiến  hành  di  cư  từ  môi trường này đến môi trường khác.

Thu Nga (Theo giáo trình sinh thái học)

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: